Thăm dò ý kiến

Bạn sẽ theo học ngành nào

  Thống kê
  Kế toán
  Tin học
  Tiếng Anh kinh doanh
  Quản trị kinh doanh
  Tài chính ngân hàng
  Kinh tế đầu tư

Những điểm mới của Luật Thống kê năm 2015


Một số điểm mới trong Luật Thống kê năm 2015


1. Kết cấu

Luật gồm 09 chương, 72 điều và 01 phụ lục về Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia, tăng 01 chương và 30 điều so với Luật Thống kê năm 2003 (gồm 08 chương, 42 điều).

 

2. Phạm vi điều chỉnh

Luật mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với mọi hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Nói cách khác, Luật điều chỉnh hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước và thống kê ngoài thống kê nhà nước. Tuy nhiên, do tầm quan trọng của thông tin thống kê nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước nên các quy định tại Luật chủ yếu vẫn tập trung vào hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê do hệ thống tổ chức thống kê nhà nước thực hiện. Đối với hoạt động thống kê ngoài hoạt động thống kê nhà nước do các tổ chức, cá nhân thực hiện Luật chỉ quy định về mục đích, nguyên tắc, yêu cầu và phạm vi, đồng thời quy định lĩnh vực cấm trong hoạt động thu thập và phổ biến thông tin thống kê (bao gồm các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh). Cụ thể tại Điều 1 của Luật: “Luật này quy định về hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước; tổ chức thống kê nhà nước và hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê ngoài thống kê nhà nước”.

Quy định như trên bảo đảm tính toàn diện, vừa khẳng định thông tin thống kê và số liệu thống kê do hệ thống tổ chức thống kê nhà nước công bố có giá trị pháp lý, vừa bảo đảm tôn trọng quyền của tổ chức và cá nhân trong kinh doanh được quy định tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

 

3. Mục đích của hoạt động thống kê

Luật quy định rõ mục đích của hoạt động thống kê nhà nước, qua đó khẳng định vị trí, tầm quan trọng của thống kê nhà nước trong quản lý nhà nước và xã hội. Đồng thời, Luật cũng quy định tại khoản 2 Điều 4 về mục đích của hoạt động thống kê ngoài thống kê nhà nước, cụ thể “Hoạt động thống kê ngoài thống kê nhà nước nhằm cung cấp thông tin thống kê phục vụ nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân và đáp ứng nhu cầu hợp pháp, chính đáng khác”.

 

4. Hệ thống thông tin thống kê nhà nước

Luật kế thừa một phần của Điều 7 Luật Thống kê năm 2003 và quy địnhchi tiết hệ thống thông tin thống kê nhà nước tại Chương II.

Điểm sửa đổi, bổ sung lần này tập trung làm rõ các hệ thống thông tin thống kê ở nước ta, bao gồm: hệ thống thông tin thống kê quốc gia; hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành; hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh, hệ thống thông tin thống kê cấp huyện; làm rõ mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin thống kê và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các hệ thống thông tin thống kê, trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong kết nối, điều phối việc cung cấp dữ liệu, thông tin thống kê giữa các hệ thống thông tin thống kê nhà nước. Luật cụ thể hóa các nội dung: hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành, hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Việc bổ sung một số nội dung mới này nhằm đảm bảo tính nhất quán trong hoạt động thống kê nhà nước, làm cơ sở bảo đảm cho thông tin thống kê nhà nước không mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính khách quan, trung thực, có độ tin cậy cao đối với người sử dụng.

 

5. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Luật đã quy định Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia gồm 186 chỉ tiêu tại khoản 4 Điều 17. Danh mục này bảo đảm tuân thủ nguyên tắc: bảo đảm quản lý, điều hành tầm vĩ mô, bảo đảm tính khả thi trong quá trình thực hiện và bảo đảm tính hội nhập và so sánh quốc tế.

Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia được xây dựng trên cơ sở rà soát, nghiên cứu, tham khảo:

- Danh mục hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ);

- Bộ chỉ tiêu phát triển giới quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số 56/2011/QĐ- TTg ngày 14/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ);

- Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016 – 2020;

- Dự thảo bộ chỉ tiêu phản ánh 17 Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc;

- 53 nhóm chỉ tiêu thống kê ASEAN (ASI) thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2020;

- Niên giám thống kê của một số tổ chức quốc tế (ILO, FAO,…) và một số nước;

- Danh mục chỉ tiêu thống kê ASEAN;

- Luật thống kê một số nước có quy định về chỉ tiêu thống kê như: Canada, Hungari, Thụy Điển, Ba Lan, Mông Cổ, Niu Di-lân, Nhật Bản, Xin-ga-po

 

6. Hình thức thu thập thông tin thống kê nhà nước

Thực tiễn thống kê thế giới và Việt Nam cho thấy, nguồn dữ liệu hành chính và dữ liệu đăng ký hành chính có vai trò rất quan trọng đối với công tác thống kê nhà nước. Đây là một nguồn thông tin quan trọng hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia, hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành. Hiện nay xu hướng của nhiều cơ quan thống kê quốc gia sử dụng nguồn dữ liệu hành chính như là một nguồn thông tin chính yếu trong hoạt động của mình. Với nguồn thông tin này, hệ thống thống kê nhà nước có thể khai thác để phục vụ cho hoạt động thống kê nhà nước nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, đầy đủ về phạm vi, đáp ứng tính kịp thời và thường xuyên được cập nhật, tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời giảm bớt phiền hà, gánh nặng cho cả người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin. Với các lý do trên, Luật bổ sung hình thức thu thập thông tin thống kê từ sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước, trong khi Luật Thống kê năm 2003 chỉ quy định 2 hình thức thu thập thông tin thống kê chủ yếu là từ điều tra thống kê và báo cáo thống kê.

 

7. Hội nhập quốc tế trong hoạt động thống kê, nâng cao tính so sánh của thông tin thống kê với quốc tế

So với nhiều lĩnh vực khác, hợp tác quốc tế là một trong những nét đặc trưng của lĩnh vực thống kê trên phạm vi toàn cầu, nhằm bảo đảm tính có thể so sánh được của số lieu thống kê giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ. Hợp tác quốc tế về thống kê là hợp tác nhằm trao đổi, chia sẻ nghiệp vụ, chuyên môn sâu về thống kê . Vì vậy, cần phải quy định các hoạt động chủ yếu trong hợp tác quốc tế cũng như vai trò điều phối của cơ quan thống kê trung ương nhằm bảo đảm chất lượng và tính hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê, đồng thời bảo đảm tính độc lập, khách quan, thống nhất và không trùng lặp về chuyên môn, nghiệp vụ của hoạt động thống kê nhà nước và nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan thống kê trung ương.

Luật bổ sung những quy định nhằm tăng cường năng lực thống kê quốc gia, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê, đưa thống kê Việt Nam hội nhập đầy đủ và sâu rộng với cộng đồng thống kê khu vực và thế giới, đồng thời nâng cao vị thế thống kê Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.:

- Quy định mô hình 7 bước sản xuất thông tin thống kê vào các nội dung quan trọng của Luật trên cơ sở tham khảo các mô hình sản xuất thông tin thống kê (GSPBM) của Luật Thống kê Liên hợp quốc, Thống kê Châu Âu, Thống kê Thụy Điển…;

- Quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và phân loại thống kê quốc gia được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam;

- Quy định mục 2 chương III “Dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước” trên cơ sở nghiên cứu các khuyến nghị của Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế;

- Quy định hợp tác quốc tế về thống kê nhà nước nhằm bảo đảm các số liệu thống kê đáp ứng yêu cầu so sánh quốc tế, nâng cao vị thế thống kê Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Các hoạt động chủ yếu về hợp tác quốc tế gồm: (i) Chia sẻ thông tin thống kê; (ii) Ứng dụng phương pháp thống kê; (iii) Đào tạo nhân lực; (iv) So sánh quốc tế; (v) Thu hút nguồn lực; (vi) Ứng dụng khoa học và công nghệ.

 

8. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến, công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động thống kê

Luật Thống kê năm 2003 chỉ quy định rất tóm tắt tại một điều (Điều 5) về ứng dụng khoa học, công nghệ vào hoạt động thống kê. Luật đã đưa nội dung này cùng với ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông và hợp tác quốc tế trong hoạt động thống kê nhà nước nâng lên thành chương riêng. Ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến công nghệ thông tin – truyền thông góp phần quan trọng nâng cao chất lượng công tác thống kê; thời gian thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích thông tin được rút ngắn, thông tin thu thập, xử lý bảo đảm chất lượng; sản phẩm thông tin tạo thành phù hợp với chuẩn thế giới, khu vực và bảo đảm tính so sánh.

Luật cụ thể hóa lĩnh vực ưu tiên đầu tư trong nghiên cứu ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến, công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại vào hoạt động thu thập và phổ biến thông tin thống kê, gồm:

- Kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành để cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin.;

- Kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê bộ, ngành với hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia;

- Các phương tiện, phương pháp thu thập và phổ biến thông tin tiên tiến gồm máy tính bảng, điện thoại thông minh, máy tính xách tay, phiếu điện tử, phiếu thu thập thông tin trực tuyến, công nghệ ảnh vệ tinh, hệ thống thông tin địa lý và các phương tiện, phương pháp thu thập, phổ biến thông tin thống kê tiên tiến khác.

 

9. Phân tích và dự báo thống kê

Thực tế của hoạt động thống kê cho thấy công tác phân tích và dự báo thống kê còn yếu, chưa thật sự được quan tâm và phát triển so với các nước trên thế giới. Để tăng cường công tác phân tích và dự báo, Luật bổ sung quy định về phân tích và dự báo thống kê.

 

10. Thẩm định số liệu thống kê của bộ, ngành trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Nhằm khắc phục chênh lệch số liệu thống kê giữa cơ quan thống kê trung ương với địa phương và bộ, ngành, Luật quy định trách nhiệm của bộ, ngành đối với chỉ tiêu thống kê trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (Điều 46), trách nhiệm và vai trò của cơ quan thống kê trung ương trong việc thẩm định số liệu thống kê của bộ, ngành trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (Điều 47). Trong trường hợp bộ, ngành không thực hiện ý kiến thẩm định của cơ quan thống kê trung ương thì cơ quan thống kê trung ương tự quyết định và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ.

 

11. Lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước

Luật Thống kê năm 2003 chưa quy định lịch phổ biến thông tin thống kê. Luật quy định lịch phổ biến thông tin thống kê là biểu thời gian ấn định việc phổ biến thông tin thống kê thuộc các hệ thống chỉ tiêu thống kê, là căn cứ để minh bạch hóa việc phổ biến thông tin thống kê, đồng thời đây cũng là cam kết của cơ quan thống kê trong việc cung cấp kịp thời các thông tin thống kê và giúp cho tổ chức, các nhân sử dụng thông tin thống kê nhà nước chủ động tiếp cận, sử dụng.

 

12. Một số nội dung liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ thống kê nhằm nâng cao chất lượng thông tin thống kê

a) Quy định trong Luật nhằm nâng cao tính pháp lý của nhiều nội dung quan trọng của hoạt động thống kê. Kết cấu lại theo hướng phân tách những nội dung quan trọng của hoạt động thống kê thành cấp quốc gia và cấp bộ, ngành để từ đó phân định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện.

- Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia: quy định tên chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu thống kê quốc gia.

- Bổ sung quy định về phân loại thống kê quốc gia, nêu rõ danh sách các phân loại thống kê quốc gia dung chung trong hoạt động thống kê.

- Bổ sung quy định các cuộc tổng điều tra thống kê quốc gia, nêu rõ danh sách các cuộc tổng điều tra, kỳ thu thập thông tin, cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức.

- Bổ sung quy định về dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước, nêu rõ danh sách cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành mà dữ liệu từ đó được cung cấp cho cơ quan thống kê trung ương để sử dụng trong hoạt động thống kê nhà nước.

- Bổ sung quy định về chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia (Điều 41) nêu rõ tên chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia và đối tượng thực hiện.

b) Biên soạn, bổ sung, sửa đổi một số điều khoản nhằm tăng cường vai trò của người thực hiện thu thập, tổng hợp và biên soạn thông tin thống kê

- Bổ sung hành vi nghiêm cấm trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê: Khai man, làm sai lệch dữ liệu, thông tin thống kê; Can thiệp, ép buộc, áp đặt, mua chuộc, đe dọa, dụ dỗ người khác khai man, làm làm sai lệch dữ liệu, thông tin thống kê và sử dụng thông tin thống kê.

- Bổ sung nhằm nâng cao tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ của điều tra viên thống kê: “Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ trong thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin theo phương án điều tra thống kê và hướng dẫn của cơ quan tiến hành điều tra thống kê”.

- Bổ sung nhằm nâng cao tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ của tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê: “Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ trong thực hiện nhiệm vụ thu thập, tổng hợp thông tin”; bổ sung quyền “Được cung cấp, sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu hành chính thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước có liên quan để tổng hợp số liệu thống kê”.

- Bổ sung một số điều, khoản nhằm tăng quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thống kê trung ương trong lĩnh vực thống kê nhà nước, gồm: Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan thống kê trung ương trong việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước, đặc biệt quy định: “Định kỳ hoặc đột xuất tổ chức kiểm tra việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê của chỉ tiêu thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đã được cấp có thẩm quyền công bố”.

c) Kết cấu lại một số điều khoản để làm rõ chức năng của cơ quan thống kê trung ương trong thẩm định các nội dung quan trọng trong hoạt động thống kê của bộ ngành

- Thẩm định hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành.

- Thẩm định phân loại thống kê ngành, lĩnh vực.

- Thẩm định phương án điều tra thống kê (cả trong và ngoài Chương trình điều tra thống kê quốc gia) do bộ, ngành quyết định.

- Thẩm định chế độ báo cáo thống kê cấp bộ, ngành.

- Thẩm định số lieu thống kê của bộ, ngành trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.

d) Bổ sung Mục “Sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước” nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, tắng tính chính xác, kịp thời của thông tin thống kê, tiết kiệm thời gian và chi phí, giảm phiền hà, gánh nặng cho người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin thống kê

- Quy định rõ nội dung sử dụng dữ liệu hành chính vào hoạt động thống kê nhà nước, danh mục các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành được sử dụng cho hoạt động thống kê nhà nước và nội dung cung cấp dữ liệu.

- Quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu hành chính phục vụ yêu cầu quản lý và hoạt động thống kê nhà nước”.

- Quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu hành chính; Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan thống kê trung ương trong quản lý, sử dụng dữ liệu hành chính được cung cấp cho hoạt động thống kê nhà nước.

- Quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê do cơ quan thống kê trung ương quản lý.

đ) Sửa đổi Chương “Chế độ báo cáo thống kê” cho phù hợp với xu thế ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng nguồn dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhằm giảm bớt phiền hà và gánh nặng cho tổ chức thực hiện chế độ báo cáo.

Bỏ quy định cụ thể về chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chỉ quy định chung là chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia và chế độ báo cáo thống kê cấp bộ, ngành.

e) Bổ sung các mức độ của số liệu thống kê được công bố nhằm minh bạch hóa việc công bố thông tin thống kê của cơ quan thuộc hệ thống tổ chức thống kê nhà nước. Các mức độ đó là: số liệu thống kê ước tính, số liệu thống kê sơ bộ, số liệu thống kê chính thức.

g) Sửa đổi, bổ sung Chương VI. Sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê và thông tin thống kê nhà nước

- Quy định cụ thể về sử dụng thông tin thống kê nhà nước.

- Quy định những lĩnh vực nhà nước ưu tiên đầu tư.

 

13. Hệ thống tổ chức thống kê nhà nước

Kế thừa Luật Thống kê năm 2003, Luật cơ bản giữ nguyên chương V “Tổ chức thống kê” do sự phù hợp của mô hình hệ thống tổ chức thống kê của nước ta, đó là mô hình kết hợp giữa tập trung (hệ thống thống kê tập trung) và phân tán (thống kê bộ, ngành); chỉ sửa những quy định cho phù hợp với thực tế hiện nay như sau:

- Tên chương sửa thành Chương VII “Tổ chức thống kê nhà nước”.

- Khoản 2 Điều 7: “Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về thống kê”.

Việc quy định như trên là phù hợp với Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, 9 Khóa XI của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị và kết luận số 63 – KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương: “Từ nay đến năm 2016, về cơ bản giữ ổn định cơ cấu tổ chức Chính phủ và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện”.

- Sửa đổi tên của Điều 31 “Thống kê xã, phường, thị trấn” thành Điều 64 “Hoạt động thống kê tại đơn vị hành chính cấp xã”; sửa đổi tên của Điều 32 “Thống kê doanh nghiệp, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp” thành Điều 65 “Hoạt động thống kê tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập”. Việc sửa đổi này nhằm phù hợp với phương thức tổ chức công tác thống kê tại cấp xã cũng như tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phù hợp với tính tự chủ của doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập theo quy định của pháp luật hiện hành.

- Luật bổ sung khoản 3 Điều 62 quy định rõ vị trí, vai trò, chức năng của Tổng cục Thống kê “Cơ quan thống kê trung ương là cơ quan thống kê quốc gia, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý nhà nước về thống kê, điều phối hoạt động thống kê, tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho các tổ chức, cá nhân”.

- Luật bổ sung khoản 4 Điều 62 quy định về các cơ quan thống kê địa phương nhằm khẳng định và luật hóa vị trí pháp lý của Cục Thống kê cấp tỉnh trực thuộc cơ quan thống kê trung ương và Chi cục Thống kê cấp huyện trực thuộc Cục Thống kê cấp tỉnh, qua đó khẳng định hệ thống thống kê tập trung và mô hình tổ chức của hệ thống thống kê nhà nước ở Việt Nam.

 

14. Về xử lý vi phạm

Do yêu cầu về kết cấu xây dựng văn bản Luật có thay đổi so với trước đây, đặc biệt cần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin thống kê, dự thảo Luật bỏ Chương VII Khen thưởng và xử lý vi phạm của Luật Thống kê năm 2003, chỉ quy định tại Điều 11 Chương I. Những quy định chung như sau:

“Người nào có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thống kê thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

 

15. Về thanh tra chuyên ngành thống kê

Luật Thanh tra năm 2010 được ban hành thay thế những quy định về thanh tra trước đây. Vì vậy, quy định về thanh tra thống kê trong Luật Thống kê năm 2003 không còn phù hợp. Luật chỉ quy định nội dung chính, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra chuyên ngành thống kê.

 

16. Một số nội dung khác

Một số nội dung trong Luật Thống kê năm 2003 được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cũng như các quy định của pháp luật hiện hành.


Thống kê truy cập